2 thg 1, 2015

Ðaminh Hà Trọng Mậu (1794-1858)

Được đăng bởi: Unknown on 2 thg 1, 2015 | 2.1.15

Ða-Minh Hà Trọng Mầu, Sinh năm 1794 tại Phú Nhai, Bùi Chu, Linh mục Dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 5 tháng 11 năm 1858 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức, Đức Piô XII suy tôn cha Đaminh Hà Trọng Mậu, linh mục dòng Giảng Thuyết lên bậc Chân Phước ngày 29.04.1951. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 5/11. "Khi cha Hà Trọng Mậu bị điệu đến nơi xử, tôi thấy cha hết sức bình tĩnh, hai tay chắp lại như khi dâng lễ". Lời chứng của bà Maria Di có lẽ cũng nói lên được tâm tình của thánh Đaminh Hà Trọng Mậu trong ngày tử đạo. 30 năm linh mục, với bao nhiêu thánh lễ trên bàn thờ, chắc chắn giờ dây cha cũng hân hoan khi được hiến dâng chính mạng sống mình như Đức Giêsu xưa trên đồi Golgotha. Tại bờ sông Hưng Yên hôm ấy, giữa tiếng quát tháo ồn ào của quân lính và dân chúng, ngài đã quỳ đó thinh lặng, ngây ngất cầu nguyện và nghiêng mình lãnh nhận nhát gươm hồng phúc. Năm 1794, làng Phú Nhai, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, quê hương của thánh Tôma Dụ và Đaminh Đạt, đã được vinh dự chào đón ngày sinh của bé Đaminh Hà Trọng Mậu, vị tử đạo tương lai. Lớn lên cậu xin phép cha mẹ, ông bà Đaminh và Maria Mỹ, dâng mình cho Chúa và chung sống với những bạn đồng chí hướng. Như hạt giống tốt được ươm vào mảnh đất phì nhiêu, nơi đây cậu Mậu được học chữ nghĩa và tập tành các nhân đức. Càng thêm tuổi, cậu càng thêm khôn ngoan và đạo đức, càng được mọi người mến thương. Tiếp đó, cậu nhận thấy Chúa muốn cho mình tiến xa hơn, nên cậu xin vào chủng viện và kiên trì học tập cho đến ngày thụ phong linh mục. Năm 1829, cùng với 10 linh mục khác trong giáo phận, cha Mậu xin vào dòng Đaminh để có thể kết hiệp mật thiết hơn với Chúa, và gắn bó với nhau trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Năm sau, cả 11 vị khấn dòng. Lớp tập của cha sau này tử đạo bảy vị, sáu vị kia đều thuộc danh sách các Đấng đáng kính chờ được phong lên bậc Chân Phước.(1) Trải qua những ngày gian khổ dưới cuộc bách hại của vua Minh Mạng, rồi những ngày bình an hơn dưới thời vua Thiệu trị, cho đến mười năm đầy khó khăn, thời vua Tự Đức, cha luôn luôn tỏ ra là một người tận tụy với đoàn chiên, không quản ngại vất vả, không lùi bước trước khó khăn, đem hết tâm trí sức lực mưu ích cho các linh hồn. Cha đảm nhiệm nhiều giáo xứ, nhưng bất cứ nơi nào cần, cha sẵn sàng đến, coi thường mọi hiểm nguy. Ngày 27.08.1858, quan quân đến vây làng Kẻ Diền và bắt được cha Mậu, những người phục vụ trong nhà xứ và một số giáo dân khác, giải về Hưng Yên. Hơn hai tháng bị giam trong ngục, dầu phải mang gông xiềng và chịu tra tấn nhiều lần, cha vẫn cương quyết tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa. Ngược lại, cha biến nhà giam thành một nơi hoạt động mới. Tại đây, cha gặp gỡ và khích lệ các giáo hữu cùng bị giam chấp nhận mọi khổ đau vì niềm tin. Tại đây, cha giúp nhiều tội nhân hóan cải đời sống. Đặc biệt, một số phụ nữ đạo đức tìm cách đưa giáo hữu ở ngoài vào thăm để được xưng tội với cha. Mặc dù phải ra tòa nhiều lần, nhưng cha luôn luôn giữ trong mình chuỗi tràng hạt Mân Côi. Cha cố dành ra những giờ rảnh rỗi để cầu nguyện và suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đối với mọi người, cha luôn cư xử cách nhân ái, yêu thương săn sóc, nên ai cũng quý mến cha. Bà Anna Ngoan, một người vẫn thường xuyên vào thăm cha trong tù, khẳng định rằng: "Các lính canh cũng kính nể và khâm phục cha". Khi thấy không thể làm cho vị chiến sĩ đức tin bỏ đạo, quan tỉnh Nam Định làm án trảm quyết cho cha và 21 giáo hữu khác. Khi biết tin này, cha Mậu tỏ ra hân hoan, giứp đỡ các giáo hữu xưng tội và chuẩn bị đón nhận hồng phúc tử đạo. Ngày 05.11.1858, trên đường ra pháp trường, mọi người đi dự đều có cảm tưởng cha đang nghiêm trang cử hành thánh lễ. Ngước mắt lên trời, đôi khi tay chắp lại, cha dẫn đầu đòan người tử đạo. Khi đến nơi xử, bên bờ sông Hưng Yên, cha quỳ gối xuống, tiếp tục cầu nguyện ít lâu, rồi đưa cổ cho lý hình chém. Thi thể cha được mai táng trọng thể tại nhà thờ xứ Mai Linh, tỉnh Nam Định. Đức Piô XII suy tôn cha Đaminh Hà Trọng Mậu, linh mục dòng Giảng Thuyết lên bậc Chân Phước ngày 29.04.1951. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Nguồn từ thư viện Đa Minh    Trường Thi Tử Đạo Linh mục Ðaminh Hà Trọng Mậu Sinh Giáp Dần (1794) quê cận Phú Nhai Học xong Chủng viện như ai Thụ phong Linh mục công khai khấn dòng  Là thợ gặt khéo trong đồng lúa Dắt đoàn chiên được Chúa trao ban Ðức tin dẫn lối đưa đàng Linh hồn mưu ích đảm đang tiến hành  Cha lãnh nhận tân canh nhiều xứ Dù hiểm nguy bất cứ nơi nào Lên đường lời Chúa giảng rao Luôn đem tâm trí bước vào khó khăn  Vây Kẻ Ðiền chúng săn lùng bắt Thấy Cha Mậu chăn dắt đoàn chiên Quân quan xông tới trói liền Giải về tra tấn xích xiềng cổ gông  Cha cương quyết sẽ không khuất phục Một niềm tin hun đúc tuyên xưng Rao truyền lời Chúa Tin mừng Nhà giam ngài vẫn không ngừng giảng rao  Các giáo hữu Chúa trao đau khổ Cùng bị giam một chỗ với Cha Giúp người hoán cải thật thà Vững tin vào Chúa lo mà canh tân  Người đạo đức xa gần giáo hữu Vào thăm ngài cầu cứu giải hòa Bề ngoài tiếp tế thăm cha Chủ tâm xưng tội ngài đà giúp dân  Cha bị nhốt vẫn lần tràng hạt Chia giờ ra khao khát nguyện kinh Cuộc khổ nạn Chúa tử hình Trên cây Thập Giá hy sinh cứu đời  Cha cư xử nói lời thân ái Với giáo dân trai gái thăm ngài Bà Ngoan khẳng định không sai Cả toán lính gác quản cai coi tù  Cũng kính nể nhà tu gương mẫu Không ghét yêu đổi xấu thành hay Ðức tin không thể lung lay Quân quan Nam Ðịnh ra tay xử liền  Vua ra lệnh ban truyền trảm quyết Cha nghiêm trang mắt liếc nhìn trời Ðôi tay chắp lại thảnh thơi Lý hình chém cổ đầu rơi lìa mình  Lễ mai táng linh đình trọng thể Tại nhà thờ nghi lễ tiễn đưa Giáo dân nước mắt như mưa Xác thân đau khổ hồn đưa về Trời  Phúc tử đạo lãnh thời Mậu Ngọ (1858) Chết tuyên xưng tuổi thọ bốn hai Suy tôn Tân Mão (1951) chẳng sai Lên hàng Á thánh danh ngài Thiên cung  Lời bất hủ: Khi quan tổng đốc Nam Ðịnh không bắt cha bỏ đạo được thì làm án trảm quyết cha và 21 bổn đạo khác nữa. Khi biết tin này, cha Mậu tỏ ra hân hoan và giúp đỡ các tín hữu trong tù xưng tội và chuẩn bị đón hồng ân Tử Ðạo. Khi ra pháp trường, mọi người có cảm tưởng như cha đang nghiêm trang cử hành thánh lễ vậy.
Ða-Minh Hà Trọng Mầu, Sinh năm 1794 tại Phú Nhai, Bùi Chu, Linh mục Dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 5 tháng 11 năm 1858 tại Hưng Yên dưới đời vua Tự Ðức,
Đức Piô XII suy tôn cha Đaminh Hà Trọng Mậu, linh mục dòng Giảng Thuyết lên bậc Chân Phước ngày 29.04.1951. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 5/11.
"Khi cha Hà Trọng Mậu bị điệu đến nơi xử, tôi thấy cha hết sức bình tĩnh, hai tay chắp lại như khi dâng lễ".
Lời chứng của bà Maria Di có lẽ cũng nói lên được tâm tình của thánh Đaminh Hà Trọng Mậu trong ngày tử đạo. 30 năm linh mục, với bao nhiêu thánh lễ trên bàn thờ, chắc chắn giờ dây cha cũng hân hoan khi được hiến dâng chính mạng sống mình như Đức Giêsu xưa trên đồi Golgotha. Tại bờ sông Hưng Yên hôm ấy, giữa tiếng quát tháo ồn ào của quân lính và dân chúng, ngài đã quỳ đó thinh lặng, ngây ngất cầu nguyện và nghiêng mình lãnh nhận nhát gươm hồng phúc.
Năm 1794, làng Phú Nhai, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, quê hương của thánh Tôma Dụ và Đaminh Đạt, đã được vinh dự chào đón ngày sinh của bé Đaminh Hà Trọng Mậu, vị tử đạo tương lai. Lớn lên cậu xin phép cha mẹ, ông bà Đaminh và Maria Mỹ, dâng mình cho Chúa và chung sống với những bạn đồng chí hướng. Như hạt giống tốt được ươm vào mảnh đất phì nhiêu, nơi đây cậu Mậu được học chữ nghĩa và tập tành các nhân đức. Càng thêm tuổi, cậu càng thêm khôn ngoan và đạo đức, càng được mọi người mến thương.
Tiếp đó, cậu nhận thấy Chúa muốn cho mình tiến xa hơn, nên cậu xin vào chủng viện và kiên trì học tập cho đến ngày thụ phong linh mục. Năm 1829, cùng với 10 linh mục khác trong giáo phận, cha Mậu xin vào dòng Đaminh để có thể kết hiệp mật thiết hơn với Chúa, và gắn bó với nhau trong sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Năm sau, cả 11 vị khấn dòng. Lớp tập của cha sau này tử đạo bảy vị, sáu vị kia đều thuộc danh sách các Đấng đáng kính chờ được phong lên bậc Chân Phước.(1)
Trải qua những ngày gian khổ dưới cuộc bách hại của vua Minh Mạng, rồi những ngày bình an hơn dưới thời vua Thiệu trị, cho đến mười năm đầy khó khăn, thời vua Tự Đức, cha luôn luôn tỏ ra là một người tận tụy với đoàn chiên, không quản ngại vất vả, không lùi bước trước khó khăn, đem hết tâm trí sức lực mưu ích cho các linh hồn. Cha đảm nhiệm nhiều giáo xứ, nhưng bất cứ nơi nào cần, cha sẵn sàng đến, coi thường mọi hiểm nguy.
Ngày 27.08.1858, quan quân đến vây làng Kẻ Diền và bắt được cha Mậu, những người phục vụ trong nhà xứ và một số giáo dân khác, giải về Hưng Yên. Hơn hai tháng bị giam trong ngục, dầu phải mang gông xiềng và chịu tra tấn nhiều lần, cha vẫn cương quyết tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa. Ngược lại, cha biến nhà giam thành một nơi hoạt động mới. Tại đây, cha gặp gỡ và khích lệ các giáo hữu cùng bị giam chấp nhận mọi khổ đau vì niềm tin. Tại đây, cha giúp nhiều tội nhân hóan cải đời sống. Đặc biệt, một số phụ nữ đạo đức tìm cách đưa giáo hữu ở ngoài vào thăm để được xưng tội với cha.
Mặc dù phải ra tòa nhiều lần, nhưng cha luôn luôn giữ trong mình chuỗi tràng hạt Mân Côi. Cha cố dành ra những giờ rảnh rỗi để cầu nguyện và suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Đối với mọi người, cha luôn cư xử cách nhân ái, yêu thương săn sóc, nên ai cũng quý mến cha. Bà Anna Ngoan, một người vẫn thường xuyên vào thăm cha trong tù, khẳng định rằng: "Các lính canh cũng kính nể và khâm phục cha".
Khi thấy không thể làm cho vị chiến sĩ đức tin bỏ đạo, quan tỉnh Nam Định làm án trảm quyết cho cha và 21 giáo hữu khác. Khi biết tin này, cha Mậu tỏ ra hân hoan, giứp đỡ các giáo hữu xưng tội và chuẩn bị đón nhận hồng phúc tử đạo.
Ngày 05.11.1858, trên đường ra pháp trường, mọi người đi dự đều có cảm tưởng cha đang nghiêm trang cử hành thánh lễ. Ngước mắt lên trời, đôi khi tay chắp lại, cha dẫn đầu đòan người tử đạo. Khi đến nơi xử, bên bờ sông Hưng Yên, cha quỳ gối xuống, tiếp tục cầu nguyện ít lâu, rồi đưa cổ cho lý hình chém. Thi thể cha được mai táng trọng thể tại nhà thờ xứ Mai Linh, tỉnh Nam Định.
Đức Piô XII suy tôn cha Đaminh Hà Trọng Mậu, linh mục dòng Giảng Thuyết lên bậc Chân Phước ngày 29.04.1951. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.
Nguồn từ thư viện Đa Minh 
 

Trường Thi Tử Đạo

Linh mục Ðaminh Hà Trọng Mậu
Sinh Giáp Dần (1794) quê cận Phú Nhai
Học xong Chủng viện như ai
Thụ phong Linh mục công khai khấn dòng

Là thợ gặt khéo trong đồng lúa
Dắt đoàn chiên được Chúa trao ban
Ðức tin dẫn lối đưa đàng
Linh hồn mưu ích đảm đang tiến hành

Cha lãnh nhận tân canh nhiều xứ
Dù hiểm nguy bất cứ nơi nào
Lên đường lời Chúa giảng rao
Luôn đem tâm trí bước vào khó khăn

Vây Kẻ Ðiền chúng săn lùng bắt
Thấy Cha Mậu chăn dắt đoàn chiên
Quân quan xông tới trói liền
Giải về tra tấn xích xiềng cổ gông

Cha cương quyết sẽ không khuất phục
Một niềm tin hun đúc tuyên xưng
Rao truyền lời Chúa Tin mừng
Nhà giam ngài vẫn không ngừng giảng rao

Các giáo hữu Chúa trao đau khổ
Cùng bị giam một chỗ với Cha
Giúp người hoán cải thật thà
Vững tin vào Chúa lo mà canh tân

Người đạo đức xa gần giáo hữu
Vào thăm ngài cầu cứu giải hòa
Bề ngoài tiếp tế thăm cha
Chủ tâm xưng tội ngài đà giúp dân

Cha bị nhốt vẫn lần tràng hạt
Chia giờ ra khao khát nguyện kinh
Cuộc khổ nạn Chúa tử hình
Trên cây Thập Giá hy sinh cứu đời

Cha cư xử nói lời thân ái
Với giáo dân trai gái thăm ngài
Bà Ngoan khẳng định không sai
Cả toán lính gác quản cai coi tù

Cũng kính nể nhà tu gương mẫu
Không ghét yêu đổi xấu thành hay
Ðức tin không thể lung lay
Quân quan Nam Ðịnh ra tay xử liền

Vua ra lệnh ban truyền trảm quyết
Cha nghiêm trang mắt liếc nhìn trời
Ðôi tay chắp lại thảnh thơi
Lý hình chém cổ đầu rơi lìa mình

Lễ mai táng linh đình trọng thể
Tại nhà thờ nghi lễ tiễn đưa
Giáo dân nước mắt như mưa
Xác thân đau khổ hồn đưa về Trời

Phúc tử đạo lãnh thời Mậu Ngọ (1858)
Chết tuyên xưng tuổi thọ bốn hai
Suy tôn Tân Mão (1951) chẳng sai
Lên hàng Á thánh danh ngài Thiên cung

Lời bất hủ: Khi quan tổng đốc Nam Ðịnh không bắt cha bỏ đạo được thì làm án trảm quyết cha và 21 bổn đạo khác nữa. Khi biết tin này, cha Mậu tỏ ra hân hoan và giúp đỡ các tín hữu trong tù xưng tội và chuẩn bị đón hồng ân Tử Ðạo. Khi ra pháp trường, mọi người có cảm tưởng như cha đang nghiêm trang cử hành thánh lễ vậy.